Họ Bùi Việt Nam

logo
quang cao
Sự kiện tiêu biểu

Tin hot

Hiển thị các bài đăng có nhãn Danhnhan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Danhnhan. Hiển thị tất cả bài đăng

 Henriette Bùi Quang Chiêu đã quyết định theo học Đại học Y khoa Paris vào năm 1927. Quyết tâm theo học Y khoa của cô bé Henriette khi đó trở nên mãnh liệt hơn khi mẹ cô mất vì bệnh tật. Sau 7 năm học tập, Henriette Bùi Quang Chiêu bảo vệ luận án đạt loại Xuất sắc vào năm 1934. Luận án của cô sinh viên Henriette khi đó được hội đồng giám khảo khen ngợi và tặng thưởng huy chương.

Henriette Bùi Quang Chiêu là nữ bác sĩ đầu tiên của Việt Nam. Bà đã trải qua rất nhiều khó khăn để có thể trở thành một nữ bác sĩ Việt trên đất Pháp.


Trong cuộc sống hôn nhân, việc Henriette Bùi Quang Chiêu li hôn với người chồng luật sư danh giá, “môn đăng hộ đối” Vương Quang Nhường đã gây ra nhiều tai tiếng lúc bấy giờ. Sau này, luật sư Nhường lấy con gái của vua Thành Thái, còn bà gắn cuộc đời mình với một chiến sĩ cách mạng.

Nữ bác sĩ Việt đầu tiên

Henriette Bùi Quang Chiêu sinh ngày 8/9/1906. Bà là con gái thứ ông Bùi Quang Chiêu, một chính khách có tiếng ở Nam Kỳ với bà Vương Thị Y, xuất thân trong một gia đình giàu có gốc Hoa.

Henriette Bùi Quang Chiêu được sinh ra tại Hà Nội, sau đó chuyển vào Sài Gòn sống. Ngay từ nhỏ, Henriette Bùi Quang Chiêu đã nổi tiếng là một cô học trò thông minh, sáng dạ. Khi mới 15 tuổi, vì rất muốn du học, ngày nào bà cũng nói với cha về chuyện mình muốn đi sang Pháp.

Nhiều lúc, ông Bùi Quang Chiêu phát cáu mà nói rằng không biết phải làm sao với bà. Thế là, ngay lập tức, bà liền trả lời rằng hãy cho bà sang Pháp đi học. Và cuối cùng, Henriette Bùi Quang Chiêu cũng thực hiện được ước mơ sang Pháp học tập.



Henriette Bùi Quang Chiêu sinh ngày 8/9/1906, là nữ bác sĩ đầu tiên của Việt Nam.


Do lúc đó, Henriette Bùi Quang Chiêu mới có 15 tuổi nên ông Bùi Quang Chiêu đã thuê một vị giáo sư để đi cùng với Henriette sang Pháp. Học ở Pháp được một năm, mẹ của Henriette mất vì bệnh lao phổi.

Trong khi đó, bản thân Henriette cũng bị bệnh đau mắt mà phải gián đoạn một năm học. Đến năm 1926, Henriette tốt nghiệp bậc trung học tại Lycée Fenelon ở Paris.

Từ niềm kính phục, trân trọng người anh của mình là Louis Bùi Quang Chiêu - một bác sĩ chuyên về bệnh Ho lao nổi tiếng tại Sài Gòn, Henriette Bùi Quang Chiêu đã quyết định theo học Đại học Y khoa Paris vào năm 1927.

Quyết tâm theo học Y khoa của cô bé Henriette khi đó trở nên mãnh liệt hơn khi mẹ cô mất vì bệnh tật. Sau 7 năm học tập, Henriette Bùi Quang Chiêu bảo vệ luận án đạt loại Xuất sắc vào năm 1934. Luận án của cô sinh viên Henriette khi đó được hội đồng giám khảo khen ngợi và tặng thưởng huy chương.

Năm 1935, Henriette Bùi Quang Chiêu quyết định trở về Việt Nam và sau khi về nước, bà đã nhận chức vụ Trưởng khoa Hộ sinh ở Bệnh viện Chợ Lớn. Ở Bệnh viện, với khí khái độc lập, không ít lần Henriette Bùi Quang Chiêu đã bị các y bác sĩ người Pháp gây khó dễ cũng như thể hiện thái độ kỳ thị dân tộc.

Tại những buổi họp, các bác sĩ người Pháp chỉ nói chuyện với y bác sĩ người Pháp trong khi những người Việt Nam thì phải đứng riêng một góc. Henriette Bùi Quang Chiêu đã tỏ thái độ của mình trước sự phân biệt đối xử này. Bà nói rằng, người Việt và người Pháp hoàn toàn bình đẳng với nhau.

Khi Henriette Bùi Quang Chiêu được giao cho chức vụ y sĩ trưởng ban thì giám đốc bệnh viện là một người Pháp đã ra lệnh cho bà phải mặc váy đầm. Giám đốc người Pháp nói với Henriette Bùi Quang Chiêu rằng nếu bà mặc váy đầm thì bà mới có thể có được sự kính trọng và bình đẳng hơn trong mắt người Pháp.

Trước yêu cầu và lời lẽ đầy khinh miệt này, Henriette Bùi Quang Chiêu đã đáp lại một cách đầy mạnh mẽ rằng bà sẽ chỉ ăn mặc như một người Việt Nam để những đồng bào Việt kính trọng bà.

Trên thực tế, khi sống ở Pháp, Henriette Bùi Quang Chiêu cũng đã mặc đầm quen. Tuy nhiên, từ hôm đó, sau thái độ của người giám đốc bệnh viện, Henriette Bùi Quang Chiêu chỉ mặc trang phục Việt trong thời gian làm việc tại bệnh viện.

Rồi cả những bất công về tiền lương cho y bác sĩ Việt – y bác sĩ Pháp, thái độ phục vụ bệnh nhân người Việt – người Pháp đều được bà Henriette Bùi Quang Chiêu tích cực đấu tranh bằng nhiều hình thức khác nhau.

Có lần, sau khi trình bày quan điểm với Ban Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy không được, bà Henriette Bùi Quang Chiêu đã đệ yêu cầu của mình lên hẳn Thống đốc nhằm thay đổi cách khám chữa bệnh, phát thuốc đầy kì thị với người Việt.

Thậm chí, lúc bấy giờ, giới y khoa Pháp tại Đông Dương thường tỏ thái độ coi thường nền y học Việt Nam trước đó. Bà Henriette Bùi Quang Chiêu đã thể hiện quan điểm đối lập của mình thông qua nhiều bài báo trong đó nêu rõ những thành tựu mới trong nền Y học do người Pháp mang đến song cũng đề cập một cách cụ thể vai trò quan trọng của y học dân tộc nước nhà.

Thái độ ngay thẳng, luôn đòi hỏi sự công bằng bình đẳng giữa những người Việt và người Pháp cũng như đấu tranh cho nền y học nước nhà của Henriette Bùi Quang Chiêu đã khiến không ít người Pháp, thậm chí là cả báo chí Pháp ở Sài Gòn lên tiếng chỉ trích bà.

Tuy nhiên, điều đó chưa bao giờ khiến Henriette Bùi Quang Chiêu lo sợ mà bị suy giảm tinh thần đấu tranh của mình.

Và cuộc sống riêng đầy thăng trầm

Năm 1935, sau khi về nước được một năm thì Henriette Bùi Quang Chiêu được cha mai mối với luật sư Vương Quang Nhường. Luật sư Vương Quang Nhường được biết đến là một trong những trí thức lớn của Nam Kỳ lúc bấy giờ. Ông sinh năm 1902 tại Yên Luông Đông, Gò Công.

Vương Quang Nhường đã sang Pháp theo học trường Luật và Kinh tế. Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ Luật khoa, Vương Quang Nhường đã trở về nước với tư cách là tiến sĩ Luật khoa đầu tiên của nước ta.

Là người có học vấn cao, kiến thức rộng nên Vương Quang Nhường được các giới thượng lưu Việt, Pháp lúc bấy giờ kính nể. Bởi vậy, cuộc hôn nhân giữa Henriette Bùi Quang Chiêu và Vương Quang Nhường được đánh giá là cuộc hôn nhân “môn đăng hộ đối” bậc nhất thời bấy giờ.

Thế nhưng, chính bản thân bà Henriette Bùi Quang Chiêu lại là người phản đối cuộc hôn nhân tưởng chừng rất xứng tầm với bà như vậy. Henriette Bùi Quang Chiêu không muốn có một cuộc hôn nhân xếp đặt, dù là với một người trí thức lớn, tài năng đi chăng nữa.

Tuy nhiên, dưới sức ép và sự kiên quyết của cha, Henriette Bùi Quang Chiêu đã phải đồng ý với cuộc hôn nhân này. Đám cưới của Henriette Bùi Quang Chiêu và Vương Quang Nhường được tổ chức ngay trong năm 1935 và trở thành một trong những cuộc hôn nhân được chú ý nhất lúc bấy giờ.

Là một cuộc hôn nhân được đánh giá “cân xứng” của hai con người đều tài năng song chỉ không đầy hai năm chung sống, cuộc hôn nhân của Henriette Bùi Quang Chiêu và Vương Quang Nhường đã tan vỡ.

Về sau, khi giải thích việc tan vỡ này, bà Henriette Bùi Quang Chiêu nói rằng: bởi sự khác biệt giữa hai người là quá lớn. Với Henriette Bùi Quang Chiêu, người chồng mà cha đã chọn cho bà quả thực là một người đàn ông rất tốt, rất có tài và cũng đã chăm sóc cho bà một cách tận tình.

Nhưng, ông lại không phải là người có thể chia sẻ, cảm thông với công việc bận rộn, vất vả của một nữ bác sĩ như bà. Bà thường xuyên phải vắng nhà để có thể tham gia vào việc khám chữa bệnh, kể cả trong những buổi đêm, trong khi ông thì không chấp nhận mãi như vậy, chính vì thế sự khác biệt giữa hai người khó lòng dung hòa, buộc phải li dị.

Vụ li dị của Henriette Bùi Quang Chiêu với Vương Quang Nhường quả thực đã gây ra một “chấn động” lớn ở Sài Gòn nói riêng và Nam Kỳ nói chung lúc bấy giờ. Không ai có thể tưởng tượng được rằng một người phụ nữ trí thức, lại xuất thân trong gia đình của ông Bùi Quang Chiêu lại có thể đệ đơn xin li hôn.

Vậy nên, người ta cứ bàn tán không ngớt về sự “liều lĩnh, cả gan” của Henriette Bùi Quang Chiêu vào thời điểm lúc đó. Sau khi li hôn, bà Henriette Bùi Quang Chiêu với ông Vương Quang Nhường vẫn là những người bạn tốt của nhau.

Cũng từ đó, bà Henriette Bùi Quang Chiêu dốc mọi tâm sức vào việc nghiên cứu, khám chữa bệnh của mình.

Đến cuối năm 1945 thì gia đình Henriette Bùi Quang Chiêu đã xảy ra một biến cố lớn. Ông Bùi Quang Chiêu cùng với ba người anh em trai của Henriette Bùi Quang Chiêu bị bắt và giết chết.

Một người bạn thân thiết của bà là kỹ sư Nguyễn Ngọc Bích, bấy giờ đang giữ chức Khu bộ phó Việt Minh cũng bị chính quyền Pháp bắt và kết án tử hình.

Henriette Bùi Quang Chiêu đã quen biết với Nguyễn Ngọc Bích, khi đó đang là một sinh viên Cầu đường trong thời gian học tập tại Pháp. Hai người nhanh chóng trở thành bạn tâm giao khi rất hiểu và chia sẻ với nhau trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống.

Sau khi từ Pháp trở về, Nguyễn Ngọc Bích là một trong những người hoạt động Cách mạng tích cực tại Nam Bộ. Khi Nguyễn Ngọc Bích bị bắt thì bà Henriette Bùi Quang Chiêu đã vô cùng lo lắng. Bà cùng với một số sinh viên trường học cũ của Nguyễn Ngọc Bích tích cực vận động đòi thả tự do cho ông.

Cuối cùng, sự vận động của Henriette Bùi Quang Chiêu cũng có kết quả. Ông Nguyễn Ngọc Bích được tha nhưng với một điều kiện là phải rời Việt Nam sang sống tại Pháp. Henriette Bùi Quang Chiêu vẫn tiếp tục ở lại Việt Nam và làm công việc nghiên cứu Y khoa của mình.

Đến năm 1957, bà Henriette Bùi Quang Chiêu sang Nhật Bản để nghiên cứu và theo học về Châm cứu. Bà đã học tại Nhật trong hai năm rồi trở về nước và phát triển hướng nghiên cứu của mình với ngành Châm cứu.

Đến năm 1961, Henriette Bùi Quang Chiêu sang Pháp và mở ở đây một phòng mạch. Cũng tại Pháp, Henriette Bùi Quang Chiêu đã gặp lại ông Nguyễn Ngọc Bích. Mối thân tình mà hai người đã có phát triển thành tình yêu.

Bà Henriette Bùi Quang Chiêu và ông Nguyễn Ngọc Bích về sống với nhau như vợ chồng. Rất không may là ông Nguyễn Ngọc Bích lại bị ung thư vòm họng.

Thế nên, sau bốn năm chung sống trên đất Pháp, năm 1965, bà Henriette Bùi Quang Chiêu đã đưa ông Nguyễn Ngọc Bích trở về Việt Nam để ông có thể sống những ngày cuối đời trên quê hương.

Ngay trong năm đó, ông Trần Ngọc Bích mất. Cũng từ đó, khi còn lại một mình, bà Henriette Bùi Quang Chiêu đã không ngừng tích cực tham gia các hoạt động khám, cứu chữa thương bệnh binh trong chiến tranh.

Mãi đến năm 1971, bà Henriette Bùi Quang Chiêu mới sang lại Pháp. Ở đây, bà tiếp tục khám chữa bệnh cho đến năm 1976. Bà mất vào ngày 27/04 vừa qua tại Paris.

Bùi Chí Nhân (Theo phunutoday.vn)

Nem Phùng có xuất xứ từ Đan Phượng, là một trong những món nem thính được người dân Hà Nội yêu thích nhất.

"Nem Phùng ăn với lá sung/ Để người tứ xứ nhớ nhung một thời", đó là câu ca dao nói về độ gây "thương nhớ" của món nem với những du khách từng ăn thử. Không được bán phổ biến như các đặc sản nem thính khác, món nem Phùng dân dã vẫn len lỏi trong cuộc sống của người dân Hà thành, trên những mâm cỗ, bàn nhậu... Sở dĩ món ăn có tên là nem Phùng là do có xuất xứ từ thị trấn Phùng, nay thuộc huyện Đan Phượng, Hà Nội.

Bản chất nem Phùng là món ăn dân dã nên mọi nguyên liệu chế biến đều đơn giản, mộc mạc, song cách chế biến tỉ mỉ mới là chìa khoá thành công của đặc sản này.

Nguyên liệu làm nem gồm thịt và bì lợn, gạo nếp và tẻ, đậu tương, lá sung. Thịt được chọn làm nem phải là thịt mềm, có cả nạc và mỡ. Gạo được chọn làm thính cũng phải là loại tẻ ngon và một ít nếp cái hoa vàng. Thịt lợn được xắt thành từng thỏi rồi đem hấp cách thuỷ, lọc bì, mỡ và nạc riêng, sau đó thái chỉ. Thịt đun chín tái, sau đó dùng thính để chín ngấu. Thính được làm theo tỷ lệ bảy phần gạo tẻ, một phần gạo nếp và hai phần đậu tương, khi rang phải đều tay và đều lửa thì mới khô và có màu nâu sáng hấp dẫn. Gạo rang xong được đem vào cối xay nghiền cho mịn tơi, đến khi toả hương thơm lừng là đạt yêu cầu cho một mẻ thính.

Sau đó, người làm nem trộn thính với bì và thịt lợn đã lọc riêng và xắt nhỏ rồi đùm lại bằng lá sung, sau đó mới gói lá chuối ở ngoài rồi buộc lạt lại thành "quả nem". Vì vậy, khi bóc ra nem thường bện chặt với nhau, khi ăn tách dần ra để tơi.


Điều làm nên tên tuổi của món nem Phùng là sự kết hợp với lá sung. Hương vị của nem trở nên hoàn chỉnh hơn nếu cuốn cùng loại lá này, ăn thơm, chan chát và giòn tan. Lá sung cũng được lựa chọn cầu kỳ không kém. Lá quá nhỏ thì sẽ không đủ để bọc nem, lá già thì dai. Người làm nem thường chọn những lá sung to bằng nửa bàn tay, nếu có thêm những đốm sùi thì ăn càng bùi.

Nem Phùng được ví như một bông hoa đang hé nở vì khi bóc, lá chuối sẽ từ từ mở ra rồi đến lá sung, nhuỵ hoa là phần nem màu vàng đang bện chặt với nhau. Hương vị của nem là một sự kết hợp độc đáo giữa vị bùi của thịt, vị thơm của thính và vị chát của lá sung. Nem thường được chấm với tương vàng hoặc tương ớt.


Hiện nay, nem Phùng đã trở nên phổ biến hơn và không còn quá kiếm như trước, thậm chí được bán ở nhiều tỉnh thành, tại các quán nhậu như một món ăn vặt, khai vị. Thực khách muốn thưởng thức có thể đến Đan Phượng, nếu ở trong nội thành Hà Nội thì ghé qua cửa hàng nem ở Hàng Bún hoặc một số siêu thị, cửa hàng tiện lợi.

Trung Nghĩa

 Theo Ngọc phả, thời Hai Bà Trưng đánh giặc Hán, Rừng Cấm – Giếng Mỏ thuộc Song Quan Trang (Nay là xã Hiền Quan) nơi đây được hai Tướng quân Bùi Thạch Đa và Bùi Thạch Đê chọn làm cứ địa để tuyển mộ binh sỹ và luyện tập võ nghệ.


Nhị vị Tướng quân là Tướng Bùi Thạch Đa, Tướng Bùi Thạch Đê được Nữ tướng Thiều Hoa tuyển mộ hợp sức giúp Hai Bà Trưng đánh đuổi giặc Hán,…. Năm 43 (SCN), trong một trận tử chiến với giặc Hán, cả hai Tướng cùng 500 Nghĩa sỹ đã hy sinh tại nơi Rừng Cấm – Giếng Mỏ.

Với công lao to lớn của Tướng Bùi Thạch Đa, Bùi Thạch Đê và các Nghĩa sỹ trong việc đánh đuổi giặc ngoại xâm, giữ yên bờ cõi Biên cương của đất nước, Địa điểm Rừng Cấm – Giếng Mỏ đã được UBND tỉnh Phú Thọ công nhận là khu Di tích lịch sử Văn hóa cấp tỉnh, tại Quyết định số 4206/QĐ-UBND ngày 14/12/2010.

Ngày 9/01/2020, UBND xã Hiền Quan huyện Tam Nông tổ chức dâng hương tưởng niệm 1.976 năm ngày mất của 2 Danh tướng Bùi Thạch Đa, Bùi Thạch Đê cùng 500 Nghĩa sỹ và Khánh thành nhà tưởng niệm tại Khu di tích lịch sử Văn hóa cấp tỉnh Rừng cấm Giếng mỏ, xã Hiền Quan, Tam Nông.

Dự buổi Lễ có đồng chí Phạm Văn Quang – Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện; đồng chí Phan Văn Ngọc – UVBTV, Phó Chủ tịch UBND huyện; lãnh đạo chính quyền địa phương và đông đảo các tầng lớp nhân dân xã Hiền Quan.

Cũng tại buổi Lễ dâng hương, UBND xã Hiền quan đã tổ chức cắt băng Khánh thành Nhà tưởng niệm 2 Danh tướng Bùi Thạch Đa và Bùi Thạch Đê cùng 500 Nghĩa sỹ. Nhà tưởng niệm được khởi công vào tháng 8 năm 2019, sau hơn 4 tháng thi công đến nay Công trình đã được hoàn thành với tổng kinh phí trên 1 tỷ đồng. Toàn bộ kinh phí xây dựng từ nguồn vốn xã hội hóa.

Nguồn: Cổng thông tin điện tử huyện Tam Nông

 Link download sách “Bùi Viện với chính phủ Mỹ: lịch sử ngoại giao triều Tự-Đức” của tác giả của Phan Trần Chúc NXB Chính Ký 1952 cuối bài viết

Mạnh Dực Bùi Viện sinh năm 1839, trong một gia đình nhà nho ở làng Trình Phố, tổng An Bồi, huyện Trực Định, phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định (nay là Trình Trung, xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình). Ông được sử sách khẳng định là một nhân vật xuất chúng ở thế kỷ XIX. Sinh ra từ mảnh đất ven biển, sớm có những hiểu biết và khát vọng về biển, Bùi Viện đã dành trọn đời mình để thực thi hoài bão vươn ra làm chủ biển khơi. Công danh, sự nghiệp của ông gắn liền với biển và xứng danh với sự tôn vinh là nhà canh tân đất nước, là người con của biển, là một nhân vật lịch sử nổi tiếng có cuộc đời kỳ lạ, chí lớn phi thường.


LỜI NÓI ĐẦU
Thế kỷ thứ 19 là một bước ngoặt lớn trong lịch sử nhân loại. Những quốc gia có những nhà lãnh đạo thức thời nhìn ra được xu hướng thời đại đã đưa dân tộc đến chỗ vinh quang. Ngược lại nhiều nước vì không nhìn ra cái mấu chốt của cải cách đã lỡ những dịp may và chuốc lấy cái thảm họa bị nước ngoài cai trị. Việt Nam ta ở vào trường hợp thứ hai mặc dầu không hiếm những sĩ phu thiết tha với tiền đồ của dân tộc, hoặc dâng sớ xin cải tổ, hoặc soạn thảo điều trần. Một trong những người đó là Mạnh Dực Bùi Viện, và ông đã tiến thêm một bước là đưa ra chương trình tổ chức việc hải phòng nhưng tiếc thay công việc chưa đi đến đâu thì ông mất.
Nghiên cứu về Bùi Viện bị một số trở ngại khách quan và chủ quan. Trở ngại khách quan là tài liệu về ông hiện có rất ít, có lẽ vì ông chết quá trẻ (39 tuổi) và sự nghiệp chỉ giới hạn trong vòng 5 năm cuối cùng của đời ông, sau khi xuất dương qua Mỹ.[1]
Sự nghiệp đó có lẽ cũng đi vào quên lãng nếu thời tiền chiến nhà văn Phan Trần Chúc không soạn một cuốn sách về ông nhan đề Bùi Viện Với Chính Phủ Mỹ – Lịch Sử Ngoại Giao thời Tự Đức (Đông Nam Á, Paris tái bản 1985). Tuy nhiên, tác phẩm của nhà văn họ Phan có nhiều điểm không chính xác đối chiếu với niên biểu của sử sách, nhiều đoạn viết theo trí tưởng tượng của người cầm bút mà không kiểm chứng.
Ở hải ngoại, Bảo Vân (Bùi Văn Bảo) có ra một quyển sách nhan đề Bùi Viện – Một Nhà Nho Sáng Suốt- Lỗi Lạc – Phi Thường (Quê Hương, Toronto, Canada 1988) nội dung không có gì mới lạ hơn tác phẩm của Phan Trần Chúc, chỉ thêm một số chi tiết trích trong Gia Phả Họ Bùi ở Trình Phố, Thái Bình[2]. Mặc dù tác giả cũng có tham khảo thêm một số tài liệu của Đào Trinh Nhất, Tùng Hiệp, Thái Văn Kiểm, Lãng Nhân … nhưng tựu trung nhiều câu hỏi vẫn không có câu trả lời.
Ngay cả tài liệu ghi lại trong Gia Phả Họ Bùi cũng có giới hạn. Một số sự kiện chép lại từ sách báo không được tra cứu kỹ lưỡng nên cũng ghi nguyên văn những chỗ đúng ra còn phải tồn nghi[3]. Gia Phả chỉ có thêm một số chi tiết về quê hương, bản quán và thân nhân, cùng những truyện kể của các cụ truyền lại, nhưng không có gì để đối chiếu. Phần lớn bổ xung là văn thơ, những tài liệu đó nặng phần sự nghiệp văn chương mà ít phần tài liệu lịch sử nên cũng không sử dụng được bao nhiêu.
Trở ngại chủ quan là người viết là không có điều kiện để truy nguyên những nơi có thể còn giữ một số tài liệu liên quan đến Bùi Viện ở Huế, cũng chưa thể trực tiếp về làng Trình Phố để làm công việc sưu tầm và thu thập dữ kiện.
Tuy nhiên, ở hải ngoại lại có một số ưu điểm mà những người đi trước bị hạn chế. Với những tiến bộ về thông tin và những nguồn tài liệu phong phú của nước ngoài, chúng ta có thể nhìn được thế giới nói chung và khu vực Đông Á nói riêng một cách rõ rệt khiến cho sự so sánh và nhận thức dễ dàng hơn. Một điểm đáng nói khác là vào thế kỷ 19, phương tiện ấn loát, sách vở và nhất là hình ảnh đã có nhiều nên chúng ta không những có thể đọc mà còn có thể hình dung được khung cảnh của những khu vực cần nghiên cứu.
Nhờ những tài liệu đó, chúng ta mới thấy quan điểm của Bùi công trên lãnh vực cải cách là một thay đổi quan trọng trong xu hướng của đương thời. Cùng với những nhà nho tiêu biểu khác vào thời kỳ đó như Nguyễn Lộ Trạch, Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ, Vũ Duy Thanh … sĩ phu Việt Nam đã tạo ra những hướng phát triển rất tích cực và thích đáng. Hơn nữa, chủ trương của Bùi Viện có ít nhiều cơ hội để thực hiện trong khi những người khác phải ngừng lại nơi những bản điều trần, ẩm hận nhi chung.
Chúng ta cũng lại có cơ hội so sánh cải cách của ông với những công cuộc duy tân vận động của các nước Đông Á để nhìn lại ưu khuyết điểm. Tiếc thay triều đình Huế không có một chính sách liên tục, cũng không kế thừa công trình dở dang của họ Bùi khiến chúng ta lỡ một dịp bước vào quỹ đạo thế giới sớm hơn.
A- TIỂU SỬ BÙI VIỆN
Bùi Viện chánh quán làng Trình Phố, tỉnh Thái Bình, sinh năm 1839, mất năm 1878 lúc mới 39 tuổi. Theo Gia Phả họ Bùi, ông là con trưởng ông Bùi Ngọc (tức Việp), đỗ Tú Tài năm Giáp Tí (1864), đỗ Cử Nhân năm Mậu Thìn (1868) [28] nhưng không đỗ Tiến Sĩ. Nhiều sách nói rằng khi vào Huế thi Hội, ông đã tập văn và học ông Vũ Duy Thanh (1806-1861) (tức ông Bảng Kim Bồng) nhưng có lẽ chi tiết này không chính xác vì Vũ Duy Thanh đã mất từ bảy năm trước khi Bùi Viện vào đến kinh đô[29]. Tuy nhiên chúng ta không thể không nhìn thấy sự tương đồng giữa họ Vũ và họ Bùi vì cả hai người đều là những nhà nho chuộng thực dụng và nhìn thấy một điểm căn bản là phải đặt lại vai trò của hải quân trong công tác cải cách và canh tân.
Trong bài sớ viết dang dở trước khi từ trần, Vũ Duy Thanh đã tâu:
Hình thế nước ta chỉ có chiều dài, không có chiều rộng. Trừ hai xứ Nam, Bắc kỳ rộng hơn một chút, còn quãng giữa từ Thanh Hóa trở vào, từ Bình Thuận trở ra, mặt trông ra biển, lưng tựa vào núi rừng, mỗi tỉnh ở một đoạn. Nếu thốt nhiên tỉnh nào gặp biến, bị cắt đường giao thông, việc tiếp tế quân lương tức thì bị ngăn trở. Vả suốt từ Bắc đến Nam chạy dài theo mé biển, phỏng như có nước ngoài dòm nom, thì bất cứ chỗ nào họ cũng có thể lọt vào được. Như vậy, việc phòng giữ mặt biển rất quan trọng. Điều cần là phải kíp luyện tập thủy quân, hậu đãi binh lính và giao quyền hành cho các quan võ để họ có uy tín mà điều khiển …[30]
Sau hai khoa Hội thí không đỗ năm 1868, 1869, Bùi Viện ở lại kinh đô và có cơ hội quen biết với một số nhà nho thức thời như Nguyễn Tư Giản (Hồng Lô Tự Khanh vừa đi sứ sang Tàu về), Nguyễn Trường Tộ, Đặng Đức Thuận … là nhóm sĩ phu có chiều hướng cải cách được gọi là Tân Đảng.[31] Tháng 4 năm 1871, ông theo Lê Tuấn ra bắc đánh dẹp giặc khách Cờ Đen, Cờ Vàng là dư đảng của Thái Bình Thiên Quốc và lập được nhiều chiến công. Sau đó ông lại xuống Nam Định giúp cho Doãn Uẩn trong công tác xây dựng cửa bể Ninh Hải (tức Hải Phòng ngày nay).
Tháng 4 năm Quí Dậu[32] (1873), vua Tự Đức được các quan hộ giá ra chơi cửa Thuận An. Trong khi vua đang ngự lãm thì có 9 chiếc tàu buồm vận tải của nha kinh lược Bắc Kỳ chở tiền tài và quân lính vào Huế. Đột nhiên từ ngoài khơi hai chiếc tàu ô tiến đến chĩa súng bắn sang, ta thua chạy, hai chiếc tàu bị giặc cướp mất. Các võ quan ta bắn thần công ra nhưng không trúng được phát nào, bọn giặc bắn giết chán chê rồi lại giong thuyền chạy mất. Bùi Viện đã làm một bài thơ kể rõ việc này, đồng thời chế nhạo sự hèn yếu của thủy binh nước ta.
Biến cố đó ít nhiều khiến cho vua ta nhận chân được sự hủ bại của triều đình và có lẽ vì thế đã chuẩn y đề nghị của Bùi Viện xin được xuất dương xem xét tình hình và tìm cách cầu viện. Một điểm đáng đặt thành vấn đề là Phan Trần Chúc (sau này được tác giả Bảo Vân nhắc lại) đã miêu tả là Bùi Viện “đã phải tự lái lấy một chiếc thuyền nan hết sức mỏng mảnh, trên những ngọn sóng tầy đình, chở ông ra ngoài bể rộng”[33]. Bỏ qua những đoạn thêm mắm thêm muối của nhà văn họ Phan như
“từ biệt các liêu hữu, Bùi Viện cho giương buồm về phía Bắc, vào một buổi sáng quang đãng mà mặt trời mới mọc trồi lên mặt nước gợn sóng, không khác một cái đĩa ngọc lớn để nghiêng trên tấm thảm hồng” (tr. 45)
hay
“Sau mươi ngày lênh đênh trên mặt bể, mười ngày đêm vật lộn với gió bão phải đè lên những ngọn sóng to tầy đình kế tiếp nhau, nhô lên rồi lại đổ xuống như cố ý hành hạ chiếc thuyền mỏng mảnh mà tay ông chèo lái, Bùi Viện trông xa đã thấy đất liền, khoảng đất rọi một tia sáng vui mừng trong khối óc đầy hi vọng của ông” (tr. 47)
chúng ta khó có thể tin tưởng một sứ bộ được cử ra ngoại quốc được đích thân nhà vua tiễn đi lại sơ sài đến thế.
Những năm tháng Bùi Viện đi sứ cũng không rõ rệt. Nếu đúng như Phan Trần Chúc viết, thời gian ông ở Mỹ kể cả hành trình và chờ đợi cũng phải hơn 1 năm, thêm đi lại từ Việt Nam tới Hương Cảng, Nhật Bản, vừa đi vừa về cũng phải cả năm nữa, có thể tin rằng ít nhất khi trở về Huế phải vào năm 1875. Việc ông sang gặp Tổng Thống Grant nhưng không thành công vì không có quốc thư cũng hơi vô lý nếu thực sự vua Tự Đức đã cử ông đi sứ thì ắt phải giao cho ông một giấy tờ gì để làm bằng, đồng thời mang theo những phẩm vật trao đổi và thường thường bao giờ cũng có Chánh Sứ, Phó Sứ và tùy tòng chứ không thể chỉ chơ vơ một người.
Một số tác giả lại chép rằng Bùi Viện chỉ được cử đi Hương Cảng để liên lạc với người Anh vì triều đình biết rằng Anh và Pháp hai bên có nhiều xung đột trong quá khứ. Việc ông ra nước ngoài có lẽ chỉ được coi như một công tác liên lạc và thăm dò, hoặc có khi ông được nghe người khác kể lại cảnh trí nước người mà tò mò nổi máu phiêu lưu nên tự ý ra đi không chừng.
Tuy nhiên khi tới Trung Hoa, ông đã nhận ra được rằng người Anh cũng thực dân không kém, nếu không nói rằng còn hơn người Pháp nên rất thất vọng. Trong thời gian lưu lại đây, ông đã kết giao được với viên lãnh sự Mỹ (?)[34] và có ý sang Hoa Kỳ cầu viện. Ông lập tức quay trở về trình lên vua Tự Đức nhưng nhà vua không mấy sốt sắng với đề nghị này nên ông đã mạo quốc thư và tự chế mũ áo hàng tam phẩm rồi qua Hương Cảng nhờ người bạn Mỹ đưa về gặp Tổng Thống Grant.[35] Tổng Thống Grant bằng lòng giúp nhưng Bùi Viện khi đó lại sợ tội đã tự quyền và mạo quốc thư nên xin được về tâu lại. Đến khi vua Tự Đức bằng lòng cử ông làm chánh sứ thì chính tình nước Mỹ đã thay đổi.[36]
Câu chuyện này xem ra có lý hơn và cũng phù hợp với thời gian ba năm (từ 1873 đến 1876), trước khi ông được chỉ định để tổ chức hải quân. Như vậy có thể ông chỉ qua Mỹ một lần nhưng đi Hương Cảng đến ba lần. Chúng ta có thể đưa ra một vài nghi vấn:
– Ông không có phái đoàn chính thức như một phái bộ quốc gia,
– Ông không đủ tư cách để đại diện triều đình (tuy đỗ Cử Nhân, Bùi Viện chưa giữ một chức vụ gì và khi muốn liên lạc với người Mỹ, ông phải giả mạo quốc thư và mũ áo tam phẩm – một vị trí không mấy gì làm cao). Cũng có thể vì thấy ông xuềnh xoàng quá nên chính phủ Mỹ đã từ chối khéo bằng cách yêu cầu ông trở về trình bày với triều đình để đưa một phái đoàn qua chính thức.
Tuy nhiên chuyện đó không quan trọng ngoài việc ông là người Việt Nam đầu tiên đặt chân lên Mỹ Châu ở thế kỷ thứ 19.
B- VAI TRÒ CỦA HẢI QUÂN TRONG VIỆC BẢO VỆ ĐẤT NƯỚC
1/ Nạn hải khấu
Từ thế kỷ thứ 16, dưới triều Minh, nước Tàu bị nạn cướp biển quấy phá. Những hải tặc đó thường là người Nhật nên được đặt tên là oải khấu (wokou, giặc lùn). Hải tặc không phải chỉ hoạt động dọc theo bờ biển Trung Hoa mà kéo dài từ Triều Tiên xuống đến tận Mã Lai. Thành thử, cả một vùng duyên hải rộng lớn coi như không thuộc quyền kiểm soát của quan quân. Các toán giặc đó cũng hoành hành dọc theo duyên hải nước ta và được gọi là giặc tàu ô vì thuyền của chúng sơn đen. Gernet Jacques đã nhận định như sau:
Vào thế kỷ thứ 16, hải tặc bành trướng đến một mức độ chưa từng có và nguyên nhân có thể tìm ra được là nó có liên quan trực tiếp đến việc phát triển thương mại trên mặt biển ở Đông Á, từ Nhật Bản kéo đến Indonesia. Các vua nhà Minh đối phó bằng chính sách ngăn cấm nhưng thiếu liên tục và chặt chẽ chỉ vì quan điểm chiến lược và kinh tế mỗi lúc một khác.[37]
Từ thời vua Thế Tông nhà Minh, cướp bể càng hoành hành, lấy các đảo ngoài khơi làm căn cứ, đói thì vào cướp bóc, bảy tỉnh duyên hải không nơi nào yên.[38] Đến khi Hồ Tôn Hiến, Tổng Đốc Chiết Giang ra lệnh cấm dân chúng liên lạc, tiếp ứng cho họ, nạn giặc bể mới suy dần.[39] Thời đó, người Trung Hoa không những không muốn giao thiệp với bên ngoài mà họ còn cấm không cho học ngoại ngữ cũng như dạy tiếng Tàu cho người nước ngoài. Trong khi người Âu Châu phát triển hàng hải và tìm đường chinh phục thuộc địa thì Trung Hoa lại tài giảm hải quân vì từ khi đào xong Vận Hà (Grand Canal) năm 1411 họ không còn cần đến việc chuyên chở hàng hóa bằng đường biển.
Sang đời Thanh, nước Tàu vẫn tiếp tục chính sách bỏ trống duyên hải nhằm mục tiêu cô lập bọn giặc biển. Thời kỳ đó, Việt Nam ta đang thời kỳ Nam Bắc phân tranh, có những lực lượng hải quân tương đối mạnh nên hải khấu không dám cướp phá nhiều mà lại tập trung vào miền Nam Trung Hoa rồi lan dần lên tận miền Bắc. Chúng chuyển hướng xuống lập căn cứ ở Đài Loan, Philippines và những đảo ngoài khơi Thái Bình Dương. Nước ta thời đó cũng có nhiều tướng tài như Hoàng Ngũ Phúc, Hoàng Đình Bảo, Nguyễn Hữu Chỉnh … khiến bọn giặc bể phải kiêng dè.
Đời Tây Sơn, thủy quân nước ta rất mạnh nên hải khấu không dám quấy nhiễu. Hơn thế nữa, khi chúng bị quân Thanh đánh đuổi còn sang thần phục nước ta, được vua Quan Trung phong quan chức và cấp dưỡng để quay trở lại quấy phá miền Nam nước Tàu.[40]
Vào thời trung cổ, những loại thuyền bè của hải khấu đều nhẹ và nhanh, sử dụng cả chèo chống lẫn buồm. Bọn chúng lại liều lĩnh và tàn ác, chính vì thế quan quân triều đình không sao tiễu trừ được.
2/ Tuần Dương Quân
Không phải đến thế kỷ thứ 19 người Việt Nam mới nhìn thấy sự quan trọng của mặt biển. Ngay từ thời Tây Sơn, cuối thế kỷ thứ 18 Nguyễn Huệ đã chủ trương phát triển một lực lượng hải quân và hải quân thời Tây Sơn đã đạt được nhiều chiến công hiển hách, tiêu diệt nhiều chiến thuyền của Âu Châu.
Quan điểm của Bùi Viện cũng tương tự và sự nghiệp của ông được nhắc đến nhiều là thay vì chỉ dâng sớ yêu cầu triều đình cải cách, chính tiên sinh đã đứng ra chịu trách nhiệm để cải tổ hải quân, đồng thời thành lập một hạm đội có khả năng lưu động tác chiến để chứng minh những gì ông đề nghị.
a/ Vai trò của Tuần Dương Quân
Một trong những vai trò chính yếu của Tuần Dương Quân là để bảo vệ mặt biển. Nước ta có đến hơn 2000 cây số mặt biển nên việc giữ yên hải phận là một công tác quan trọng không phải chỉ trong việc quốc phòng mà cả về giao thông và thương mại.
Dưới triều Nguyễn kinh đô nước ta đặt tại Huế để cân bằng hai đầu Gia Định – Thăng Long. Tuy nhiên về mặt kinh tế, Huế nhỏ hẹp và cằn cỗi không thuận tiện cho việc đi lại, chính vì thế Hà Nội và Saigon vẫn có nhiều ưu điểm hơn về mặt ngoại thương.
Khi đề ra dự án xây dựng một đội ngũ hải quân, Bùi Viện đã nhấn mạnh đến vai trò thu lợi của nó, cái mà ngày nay trong quản trị người ta gọi là ROI (return-on-investment), nghĩa là cái được so sánh với cái mất. Ông đã sớm hiểu được tình hình túng quẫn của triều đình sau những chiến phí và bồi thường cho những nước thắng trận theo hòa ước năm Nhâm Tuất (1862) và Giáp Tuất (1874), lại chinh chiến giặc giã liên miên nên kho đụn đều trống rỗng.
Việc xây dựng một hạm đội, dù là tuần tiễu hay phòng ngự đều đòi hỏi một kinh phí rất cao, triều đình Huế vì thế rất tiện tặn trong những chi phí binh bị. Do đó, Bùi Viện gần như phải tự xoay sở lấy để thực hiện nguyện vọng của mình. Tuần Dương Quân vì thế được xây dựng theo những tiêu chuẩn sau đây:
– Tự túc tự cường: Tuần Dương Quân đóng vai trò bảo vệ các thuyền buôn đi từ Bắc vào Nam. Vì địa thế nước ta dài và hẹp, đường sá chưa được mở mang nên đi từ Bắc vào Nam chủ yếu vẫn là đường bể. Tuy nhiên giặc cướp rất nhiều mà triều đình thì bất lực khiến cho dân chúng không thể qua lại và vì thế kinh tế không thể nào phát triển được.
Biết rằng nếu trông chờ vào triều đình cung cấp phương tiện thì sẽ không bao giờ thành, Bùi Viện đã mở rộng tầm hoạt động quốc phòng, biến Tuần Dương Quân từ một lực lượng bảo vệ duyên hải thành một lực lượng hải quân đóng vai bảo tiêu và tuần hành bằng cách:
* Sử dụng ngay đội Tuần Dương Quân mà triều đình thành lập để đi tiễu trừ giặc bể
* Cải tiến Tuần Dương Quân thành một đội vận tải lương tiền cho triều đình
* Dùng Tuần Dương Quân để hộ vệ các nhà buôn thu lợi dùng vào việc trang bị[41]
Với chương trình đó, đội Tuần Dương Quân đã có thể sử dụng ba nguồn tài nguyên: chi phí của hải quân, tiền đóng góp “mãi lộ” của nhà buôn và tiền công vận tải lương tiền cho triều đình. Một tính toán sơ khởi chúng ta đã thấy Bùi Viện không những có đầu óc tổ chức mà lại biết kinh doanh, tối ưu hóa (optimization) hoạt động của mình đồng thời tối đa hóa (maximization) các nguồn lợi tức.
Chương trình thực hiện tuần dương đội do đó có một kinh phí tương đối dồi dào theo chiều hướng lũy tiến, càng hiệu quả thì các nhà buôn càng tin tưởng, càng tin tưởng thì số đóng góp càng nhiều và do đó việc canh tân càng nhanh chóng. Ngoài ra triều đình Huế cũng không còn phải lo nhiều mặt mà mặt nào cũng nửa vời, có thể tập trung khuyến khích việc thương mại và bang giao với nước ngoài, đồng thời giảm thiểu được công tác bố phòng dọc theo duyên hải, biến những pháo đài quân sự thành những cửa biển cho tàu cập bến. Xem lại lịch sử nước ta, triều đình rất quan tâm về việc bố phòng nhưng không có tiền để thực hiện những kế hoạch lớn, lại thiếu ý niệm xây dựng vốn đầu tiên ngoài việc gia tăng thuế má là điều mà vua Tự Đức không muốn làm. Cái quan niệm cần kiệm giản phác của nhà nho không thể áp dụng vào việc canh tân.
– Cải tiến hiệu năng:
a/ Cải tiến kỹ thuật để gia tăng sự lưu động (mobility) của hải quân: Ngay từ đầu Bùi công đã nhìn thấy ưu điểm của thuyền bè hải tặc. Như chúng ta đã biết, hải khấu dọc theo bờ bể Trung Hoa và Việt Nam thời đó không phải chỉ là những đám giặc lẻ tẻ mà là những tổ chức khá qui mô. Đám hải khấu đó vốn dĩ là tàn quân của Thiên Địa Hội, Bạch Liên Giáo … là những tổ chức mưu đồ phản Thanh phục Minh nhưng không thành công nay trở thành cướp biển, có căn cứ và mạng lưới liên lạc khắp vùng đông và đông nam Á Châu. Ngoài tổ chức chặt chẽ, họ cũng có trình độ và đã mua được nhiều tàu bè, súng ống của Âu Châu và không ngại đụng độ với các chiến thuyền ngoại quốc. Trong tờ biểu tâu lên vua Tự Đức, Bùi Viện viết:
… Việc trị an ở ngoài bể, gần đây nước ta tin cậy vào công cuộc hải phòng của một nước ngoài. Nhưng chống chọi với hàng muôn ngàn chiếc thuyền của giặc tầu ô, chúng ta chỉ có vài chiếc tàu thủy, vừa chậm chạp vừa nặng nề. Giữ được chỗ nọ thì hỏng chỗ kia, vài con voi địch với một đàn hổ, thế dù mạnh đến đâu cũng không thể che chở cho xiết được. Và những tàu thủy lòng sâu bảy, tám thước mà thuyền giặc thì lòng chỉ ba, bốn thước là cùng. Nếu gặp tầu thủy đi tuần thì giặc đã có một cách đối phó rất giản dị và có hiệu lực vô cùng là chúng tránh thuyền vào những chỗ bể nông, tầu không sao đến được mà bắn cũng không tới …
Do đó việc đầu tiên Bùi Viện nghĩ tới là phải thành lập được một đội tuần phòng hải dương bằng hoặc hơn quân giặc bể.
b/ Cải tiến tiếp liệu (logistics) để ứng phó kịp thời
Trước kia dọc theo bờ bể nước ta có thiết lập những đội quan phòng, với nhiêm vụ chính yếu là “tiễu giặc ngoài bể”. Thức tế những đội quan phòng này chỉ làm nhiệm vụ báo động theo kiểu mỗi khi dân làng gặp cướp hay thú dữ thì đem nồi đồng mâm thau ra gõ để thông tin đồng thời dọa nạt kẻ địch. Phương pháp đó đã kém hữu hiệu lại thụ động, chỉ khi nào bọn cướp đã bỏ đi lúc đó mới chạy ra tiếp ứng. Bùi Viện nhận xét rất đúng:
… Thực ra từ khi đặt ra đến giờ, những đội quan phòng ở các đồn duyên hà không có ích gì cho nhà nước cả. Vì chức trách của họ là phải phòng ngừa giặc bể, mà giặc bể thì chỉ hoành hành ở ngoài khơi. Dù họ có biết đích là ngoài bể có giặc nữa cũng chỉ đến dương mắt mà nhìn, chứ không có cách gì xoay trở …[42]
Do đó ông quan niệm đánh giặc phải đánh ngay từ ngoài bể, biến những đội Tuần Dương (theo nghĩa đi tuần) thành thủy quân chiến đấu, giảm thiểu trách nhiệm cho các đội quan phòng bằng cách giải ngũ những thành phần yếu đuối, già nua và chỉ giao cho họ nhiệm vụ tổ chức những hải cảng và “hỏi giấy thông hành những người ngoại quốc hoặc bản xứ qua lại các thương cảng”[43]
Ông đề nghị lập một thủy đội hỗn hợp bao gồm dân chài (700/1000) và hải tặc chiêu hồi (300/1000) có địa bàn hoạt động toàn quốc nghĩa là thống nhất chỉ huy, địa phương tiếp ứng, có thể tập turng lực lượng để hành quân những trận lớn đối phó với giặc mà không để bị rơi vào thế thụ động như trước.
Ông cũng đề nghị chia thành hai loại căn cứ tiếp liệu:
§ Các đồn lớn ở hải cảng là căn cứ của đội tuần dương,
§ Các đồn nhỏ ở những nơi hiểm yếu là nơi liên lạc và hỗ trợ.
c/ Cải tiến khả năng binh sĩ để chiến đấu hiệu quả
Một trong những quan điểm sáng suốt mà có lẽ sau những lần ra nước ngoài ông đã học hỏi được của các nước Tây Phương là phải tuyển chọn và tổ chức binh sĩ cho tinh nhuệ. Trước đây quan ta vẫn chỉ cốt tuyển lính cho đủ số, bổ đồng cho mỗi làng nên người được chọn thường là dân quê nghèo khổ bị bắt đi chẳng khác gì đi đày, khả năng đã kém cỏi mà tinh thần lại càng suy sụp. Bùi Viện đề nghị chỉ tuyển lính trong các làng dân chài là những người có kinh nghiệm và quen với sóng gió, cộng thêm với chính bọn giặc bể được chiêu dụ về cộng tác với triều đình, trọng về phẩm chứ không trọng về lượng, lại cho họ lương bổng đầy đủ[44]
b/ Tổ chức
Bùi Viện được giao cho chức Tuần Tải Nha Chánh Quản Đốc kiêm Tham Biện Thương Chính[45], ông lập tức cùng với Phó Quản Đốc Đặng Văn Ứng (võ cử xuất thân) tuyển mộ binh lính và chia thành hai loại:
– Thủy Dũng: là binh lính người Việt tuyển mộ từ các dân chài dọc theo duyên hải có những điều kiện “trí dũng, đức hạnh, bơi lội giỏi, thuộc đường bể, biết trước những lúc có thể xẩy ra mưa gió, thông các phép tính” (điều 1 chiêu mộ)
– Thanh Đoàn: là những người Tàu, kể cả giặc bể được chiêu mộ làm lính trong Tuần Dương Quân, do chính người Tàu chỉ huy.
Việc thành lập Tuần Dương Quân được Bùi công soạn thành điều lệ, bao gồm lời nói đầu và 20 điều khoản chia ra như sau:
a/ Thể lệ tổng quát (điều 1, điều 2)
b/ Lương bổng và cấp bậc (điều 3)
c/ Tưởng thưởng cho người chiêu mộ (điều 4)
d/ Phụ cấp, binh phục (điều 5)
e/ Trợ cấp gia đình (điều 6)
f/ Chế tài đối với lính đào ngũ (điều 7)
g/ Kỷ luật binh trại (điều 😎
h/ Kỷ luật khi giao tranh (điều 9)
i/ Kỷ luật đối với dân chúng (điều 10)
j/ Tưởng thưởng khi giao tranh (điều 11)
k/ Trợ cấp tử tuất (điều 12, 13)
l/ Các hình phạt:
– vi phạm khi tại ngũ (điều 14)
– hà lạm của công (điều 15)
– thi hành công tác (điều 16)
m/ Các ngạch thư lại:
– tuyển mộ (điều 17),
– lương hướng (điều 18)
– kỷ luật (điều 19)
n/ Các ngạch tạp vụ khác (điều 20)
c/ Tuyển mộ
Vì chú trọng đến khả năng binh lính, Bùi Viện đã đưa ra những tiêu chuẩn tuyển mộ rõ rệt và tưởng thưởng những ai tìm được người. Người nào mộ được:
– 5 đến 10 thủy binh: thì được phong đội trưởng
– 10 thủy binh: — tòng cửu phẩm
– 20 thủy binh: — chánh cửu phẩm
– 30 thủy binh: — tòng bát phẩm
– 40 thủy binh: — chánh bát phẩm
– 50 thủy binh: — tòng thất phẩm
– 60 thủy binh: — chánh thất phẩm
– 70 thủy binh: — tòng lục phẩm
– 80 thủy binh: — chánh lục phẩm
– 90 thủy binh: — tòng ngũ phẩm
– 100 thủy binh: — chánh ngũ phẩm
– 200 thủy binh: — tòng tứ phẩm
– 300 thủy binh: — chánh tứ phẩm [46]
Ông cũng đưa ra những tiêu chuẩn nhất định để tuyển mộ, mặc dù còn đại cương nhưng đã có những nguyên tắc rõ rệt để chia ra thượng hạng, trung hạng và hạ hạng (điều 2). Điều chính yếu đây là những người tình nguyện chứ không phải bị cưỡng bách và chính vì thế không phải bất cứ ai cũng có thể gia nhập Tuần Dương Quân mà phải hội đủ một số điều kiện nhất định. Ngoài ra những người đó còn phải có lý lịch tốt, được thân thuộc và lý dịch bảo đảm (điều 1).
d/ Kỷ luật
Có thể nói kỷ luật mà Bùi Viện đưa ra là kỷ luật thép áp dụng trong thời chiến. Điều đó cũng không lấy làm lạ vì kỷ luật là sức mạnh của đoàn quân, chưa nói những kẻ ông chiêu mộ đều là thành phần rất táo tợn, vừa phải lấy lợi mà dụ, vừa phải lấy uy mà trừng trị. Ông đưa ra những trách nhiệm liên đới giữa binh sĩ và người chiêu mộ, vừa chịu tội, vừa phải bồi thường công quĩ. Ông lại áp dụng những hình phạt khắt khe chúng ta thường thấy trong sử sách những giai đoạn cần phải củng cố lại uy quyền của người làm tướng, chẳng hạn như “Nếu binh sĩ nào gặp trời mưa mà lấy nón của dân để đội thì lập tức bị chém đầu để thị chúng” (điều 10).
Một điều chúng ta cũng nhận ra là Bùi Viện không trị binh theo lối nhân nghĩa của nhà nho mà theo kiểu giang hồ nghĩa sĩ – nghĩa là ông áp dụng chính những qui luật có sẵn của bọn hải khấu. Hải khấu ở biển đông thường là hội viên của một số bang hội, giáo phái, có những nghĩa khí riêng của tổ chức nhưng đồng thời cũng rất tàn nhẫn với kẻ phản bội hay không hết lòng. Có lẽ Bùi Viện đã nghiên cứu khá sâu rộng về những tổ chức này và nắm vững được những qui luật của họ nên đã đưa ra những biện pháp tưởng thưởng và trừng phạt khác thường.
Kêu gọi tính anh hùng hảo hán, lòng trọng lợi, cùng kỷ luật nghiêm minh đã khiến đám giặc bể có cảm tưởng ông là một thủ lãnh kiệt hiệt gần gũi với họ hơn là một văn quan thư sinh. Hết lòng với anh em, chia vui xẻ buồn, đụng trận xông ra trước, ông đã áp dụng đúng mức đạo làm tướng mà cổ nhân thường đề cao. Cũng nên thêm rằng, trước đây các quốc gia Đông Á chưa có trường huấn luyện tướng soái mà chỉ bổ nhiệm theo nhận xét riêng của vua quan, vốn thường là văn nhân chuyển sang võ nghiệp rồi tự mình tìm hiểu và học hỏi kinh nghiệm.
Trước đây, việc một văn quan bị chỉ định cầm quân thường là một cách trừng phạt chứ không phải là thăng thưởng nên ai nấy đều lo sợ và bối rối. Trái lại Bùi Viện trông chờ một dịp để thi thố tài năng và điều đó cũng là một chí hướng khác thường so với những nhà nho khác.
e/ Lương bổng
Xét về lương bổng, có thể nói Bùi Viện đã đưa ra một qui chế rất hậu hĩ để chiêu dụ nhân tài. Quả thực vậy, đời Minh Mạng, nhà vua cua cũng đã đặt ra tiền “dưỡng liêm” để ngăn ngừa tham quan ô lại. Khi tổ chức Tuần Dương Quân, Bùi Viện đã ấn định không những lương bổng cho người lính mà còn nghĩ đến trợ cấp gia đình và nhất là cả tiền tử tuất rất hậu cho thân nhân người quá cố nếu chết trong khi giao tranh. Điều đó chứng tỏ ông quan tâm đến những nỗi lo của binh sĩ dưới quyền và hiểu rằng muốn họ yên tâm và hết lòng trong công tác, phải cho họ được thoải mái không phải lo đến cơm áo cho vợ con ở nhà.
Tuy nhiên, chúng ta cũng phải đặt câu hỏi là những con số mà ông Phan Trần Chúc ghi ra có thực sự chính xác hay không? Đối chiếu lương bổng một vài cấp bậc dưới triều Minh Mạng[47] và của Tuần Dương Quân do Bùi Viện đưa ra[48] ta thấy sự chênh lệch quá xa:
Phẩm hàm Lương năm Xuân phục Gạo Lương TDQ Phụ cấp
Tứ phẩm 80 quan 14 quan 60 phương 360 quan
Ngũ phẩm 40 quan 9 quan 43 phương 300 quan
Lục phẩm 30 quan 7 quan 25 phương 264 quan
Thất phẩm 25 quan 5 quan 20 phương 240 quan
Bát phẩm 20 quan 5 quan 18 phương 216 quan
Cửu phẩm 18 quan 4 quan 16 phương 180 quan
Binh sĩ /Thủy binh thượng hạng 12 quan 24 phương 72 quan 24 phương
24 quan
Lương một Tuần Dương Quân hạng tứ phẩm gấp 4 lương của triều đình, ngang với nhất, nhị phẩm là một chuyện khó tin và xem ra công quĩ khó lòng mà đảm đương nổi, dẫu rằng có thêm những nguồn lợi tức khác, dù đã thu tiền “mãi lộ” của các nhà buôn. Đó là chưa kể các phụ cấp gia đình của các viên chức có ngạch trật mà chúng ta không thấy đề cập đến. Nếu đúng như thế, chắc chắn sẽ gặp sự chống đối của đồng liêu hay triều thần.
Ngay cả các viên chức “hành chánh”, nha lại, sai dịch cũng được trợ cấp hậu hĩ tới mức khó tưởng tượng:
… Theo quốc lệ hiện hành chung cho các ngạch: Bát phẩm mỗi viên mỗi tháng được 1 quan 8 tiền, gạo 1 phương 20 bát, cửu phẩm 1 quan 5 tiền, gạo 1 phương 10 bát; vị nhập lưu thư lại (người chưa vào ngạch gì) 1 quan tiền, 1 phương gạo.
Theo lệ mới định riêng về ngạch tuần tải: viên bát phẩm mỗi tháng được cấp thêm tiền 14 quan, cửu phẩm 12 quan, vị nhập lưu thư lại 10 quan …[49]
Lương bổng gấp 8 lần bình thường e rằng không chính xác. Tiếc rằng Phan Trần Chúc không đưa ra những tài liệu ông đã tham khảo để hậu nhân có thể tra cứu nên không biết tài liệu sử dụng có chính xác hay không.
Bùi Viện cũng đưa ra những số mục khá cao về tử tuất, tử trận cả về tiền bạc lẫn truy tặng danh tước. Những tưởng thưởng cho binh sĩ khi cướp hay lấy được thuyền giặc mang về cũng rất đáng kể chứng tỏ ông muốn sử dụng đám giặc khách chiêu hồi được như những người lính đánh thuê. Chúng ta cũng có thể nghĩ là có thể ông đã học được cách thức của người Trung Hoa trước đó không lâu khi họ trả tiền để cho hai sĩ quan ngoại quốc đem quân đánh với giặc Thái Bình Thiên Quốc. Đó là Frederick T. Ward (Mỹ) và sau đó Charles G. Gordon (Anh) chỉ huy đội quân được mệnh danh là Vạn Thắng Quân (Ever-Victorious Army). Cũng rất có thể uy tín vang dậy của đoàn quân này đã ảnh hưởng đến Bùi Viện khi ông qua Quảng Châu đưa đến quyết định của ông muốn sang Mỹ cầu viện và học hỏi về binh bị. Trước đó mấy năm, triều đình Huế cũng áp dụng chính sách này và đã mướn giặc Cờ Đen chống lại quân Pháp giết được Francis Garnier (1873).
3/ Một số chiến công
Thủy quân của Bùi Viện tuy còn non trẻ nhưng đã sớm lập được một số chiến công. Tháng tư năm 1878, quân ta giao chiến với giặc Tầu Ô ở Hà Tĩnh, dùng hỏa công đốt tàu địch khiến chúng phải chạy trốn, tịch thu một chiến thuyền cùng lương thực đạn dược và bắt được 18 tên cướp.
Đến tháng 5 cùng năm, quân ta lại giao tranh với địch ở Thanh Hóa trong khi hải phỉ đang cướp một tàu buôn. Quân ta truy kích địch đến tận đảo Hải Nam (Trung Hoa), tịch thu một chiến thuyền và đạn dược, khí giới.
Nhờ hai chiến công đó, dân chúng cảm thấy tự tin hơn nên các thương cảng trở nên sầm uất, tàu thuyền ra vào buôn bán ngày một nhiều. Một thời gian sau, các chi điếm cũng được mở tại Thanh Hóa, Nghệ An, Đà Nẵng, Quảng Nam. Trên bộ, Bùi Viện cho xây lại những pháo đài, bố trí súng đại bác để canh phòng mặt biển.
C – NHẬN XÉT
1/ Cá tính
Một trong những nhận định đầu tiên của người viết là Bùi Viện không phải là một nho sĩ theo nghĩa bình thường, ông là một võ tướng ẩn mình dưới lớp áo văn nhân. Theo tộc phả, họ Bùi chánh quán ở Thanh Hóa, di cư ra Bắc từ triều Lê đã hai trăm năm nhưng có lẽ chỉ đến định cư ở Trình Phố, Thái Bình vài đời trước, Bùi Viện là đời thứ tám tính từ khi thiên di.
Tỉnh Thái Bình vốn là đất tân bồi, phần lớn là đầm lầy. Dưới thời Minh Mạng, năm 1828, Nguyễn Công Trứ được phong chức dinh điền sứ, đem dân vào khai khẩn lập ra hai huyện Kim Sơn, Tiền Hải (núi vàng, biển tiền) và hai tổng Hoành Thu và Minh Nhất. Họ Bùi có thể cũng đến định cư ở Tiền Hải từ thời này.
Theo văn chương và hành trạng cuộc đời ông, Bùi Viện là người có tính liều lĩnh, không nệ qui tắc, có thể nói là táo tợn. Với lối văn trực ngôn ít khuôn sáo, việc ông đỗ Cử Nhân kể cũng là chuyện khác thường. Trong xã hội quân chủ chuyên chế của nước ta thời đó, ông đã dám làm thơ (hay vè???) diễu cợt quân triều đình bị Tàu Ô đánh đuổi bằng những câu:
… Tàu ô hai chiếc thẳng dong,
Ào ào nổ súng rồi cùng hét vang.
Tung hoành chạy dọc chạy ngang,
Quan quân chẳng thấy thấy toàn Tàu ô.
Chúng cười chúng thét líu lo,
Đứa đâm đứa chém, đứa xô xuống tàu …
và miêu tả quan quân:
… Nghênh ngang võng võng dù dù,
Bài vàng thân mũ xuân thu phái tàu.
Cũng không tài cán chi đâu,
Rồi ra múa mỏ, vảnh râu chõm chòe …
Ăn thì nhằm trước nhằm sau,
Đến khi có giặc trụt đầu trụt đuôi …[50]
kể cũng là bạo gan.
Việc tiên sinh tự ý tìm đường sang Mỹ (có lẽ ông chỉ được cử đi sang Hồng Kông xem xét tình hình), rồi lại liều lĩnh giả triều phục, giả quốc thư … đủ biết ông là người dám nghĩ, dám làm chỉ nghĩ đến lợi ích cụ thể mà không nề hậu quả bất lợi cho bản thân.
Sau khi đỗ Cử Nhân, ông không có chức vụ gì cả, nhưng lân la kết giao với thành phần có đầu óc canh cải tại Huế, rồi tình nguyện xin theo Lê Tuấn ra Bắc dẹp giặc Cờ Đen, lại theo Doãn Uẩn đi khai khẩn đất hoang … đều là những việc mà văn nhân ít ai chịu làm, đủ biết ông vốn là người có chí mạo hiểm, thích điều mới lạ mà không chịu bó mình vào qui củ.
Xem phương lược tuyển mộ, trị binh … của ông, mặc dầu không khỏi ảnh hưởng cổ nhân, chắc chắn ông đã tham duyệt nhiều binh thư, nghiên cứu đồ trận và tìm hiểu phương pháp tổ chức của Âu Châu qua sách vở (có thể bằng những bản dịch sang tiếng Trung Hoa) đồng thời nhận xét tận mắt sinh hoạt của họ trong những lần du hành qua nước ngoài.
Ông cũng là người quyết đoán, mỗi khi có việc khó xử đều tự chuyên rồi tâu sau nên không khỏi bị nhiều người dèm pha. Có sáng kiến, biết đưa ra kế hoạch và tìm cách thực hiện kế hoạch, Bùi Viện có nhiều đức tính của kẻ doanh gia (entrepreneur) mà nếu biết dùng ông, triều đình Huế đã có thể xoay chuyển được thời thế.
Một điểm chúng ta cũng cần nhắc tới là văn chương ông trọng thực dụng, những bài văn ông viết đã tự ý hạ thấp xuống để cho người bình dân có thể hiểu được. Trong tờ chiêu yết để dụ dỗ bọn hải khấu về với triều đình, ông không ngần ngại đưa ra lẽ hơn thiệt, chỗ thì đề cao “danh tướng đã bao người xuất thân ở chốn lục lâm”, lúc lại dùng lợi để nhử bọn giặc cướp:
… Tuy nhiên xông pha chỗ cung tên, sóng gió cũng là việc rất can tràng, phải trải qua bao nỗi nguy hiểm mới cướp được hóa vật đem về rồi dấm dúi bán rẻ, của đáng mười chỉ bán được một hai …
Như vậy các anh em chẳng những lập được danh mà lại còn có cả lợi nữa …
Trong bài “quân luật” bằng văn vần ông cũng viết:
… Giáp tầu giặc, tàu nào tới trước,
Kẻ cắm cờ người lấy hương lô.
Tiền công lệ đã trọng thù,
Đồng đoan giai bạn cũng cho hoa hồng.
Còn hóa hạng công đồng định thưởng,
Trước nhất tầu được thưởng năm thành.
Còn thừa chia cả đoàn binh,
Mấy thành châm chước phân minh cũng đều …
Bài văn tế hai người lính tử trận ông viết cũng rất dễ hiểu, phải nói là ai ai cũng có thể thông cảm tấm chân tình của ông nhưng không phải vì thế mà không có phần “thu phục nhân tâm”, dùng văn chương để củng cố lòng tin của thuộc cấp:
… Người sống ở đời,
Tiếng thơm là trọng.
Chết mà phải nghĩa,
Chất cũng như sống.
… Than ôi hai anh,
Vô tình đạn lửa.
Bắn vào nhâu nhâu,
Há vì ham tước,
Há vì ham lộc.
Tấm thân ngàn vàng,
Bỏ đi một chốc.
Vì chưng trọng nghĩa,
Nên coi rẻ thân …
2/ Cái chết của Bùi Viện
Ngày mồng 1 tháng 11 năm Tự Đức 31 (1878), ông đột ngột từ trần. Cái chết của ông cũng có nhều điểm còn mờ ám vì thật bất ngờ và không có dấu hiệu gì báo trước.
… Cả ngày mồng một ông vẫn mạnh mẽ như thường … nhưng đến chập tối thì ông kêu đau nhức khắp mình mẩy. Đến nửa đêm, Bùi Viện chết.[51]
Rất có thể ông đã bị ám hại vì nhiều người đương thời không thích tính trực ngôn của ông cũng như e ngại rồi đây ngôi sao họ Bùi sẽ làm cho đình thần bị thất sủng.
Cũng có người lại cho rằng triều đình e ngại ông sẽ trở thành một thứ Hoàng Sào, Từ Hải – dọc ngang nào biết trên đầu có ai – phương hại đến cơ nghiệp triều Nguyễn nên ra tay trừ khử trước.
Tuy nhiên đó chỉ là những giả thuyết của những người ái mộ ông mà không có gì làm bằng cớ. Nhìn lại những câu đối của các quan lại và đồng liêu thời đó mừng ông, thương tiếc ông, chúng ta có thể tin rằng với những lời ca tụng quá ư nồng nhiệt, không thể không có người ghen ghét.
Một điểm nổi bật đáng lưu ý, bản thân ông chính là sợi dây buộc chặt Tuần Dương Quân với triều đình vì một khi không còn ông nữa, những đoàn quân đó đều tự động giải tán, một số quay trở về nghề ăn cướp cũ, một số khác tự ý tìm đường khác mưu sinh. Họ chỉ mới đến mức trung với chủ tướng chứ chưa phải vì quốc gia. Cũng có thể việc giải thể Tuần Dương Quân chính là chủ trương của một số người trong triều đình Huế lúc bấy giờ.
3/ Tại sao binh bị triều Nguyễn lại suy sụp?
Một câu hỏi mà chúng ta có thể nêu ra là tại sao việc binh bị triều Nguyễn so với những triều đại trước rất là kém cỏi. Cuộc cách mạng hải quân của Bùi Viện là một điểm rất đặc biệt, về phương diện quan điểm cũng như về phương pháp tổ chức.
Sự thành công trong một thời gian ngắn đáng lẽ phải được duy trì và khuếch trương thì tại sao triều đình lại bỏ qua?
Hà cớ gì những công lao đó sau đó như một hòn đá ném vào biển cả, không còn để lại tăm tích gì? Ngay cả Quốc Sử Quán triều Nguyễn cũng gần như không đề cập đến. [52]
Chúng ta phải đi lại một quãng lịch sử khá dài để có cái nhìn chính xác hơn.
Khi vua Gia Long đánh bại nhà Tây Sơn, thu giang sơn về một mối, nỗi lo của nhà vua không còn là ở một lực lượng đối đầu mà chính là sợ cái họa từ trong tâm phúc. Một mặt nhà vua e ngại những người cật ruột mình làm phản, mặt khác e dân chúng các nơi còn hoài vọng tiền triều.
Với vị trí kinh đô đóng ở Huế, việc kiểm soát lãnh thổ là một việc tương đối khó khăn, đường sá xa xôi cách trở. Mặc dù ngoài Bắc và trong Nam có các tổng trấn thay mặt triều đình, nhà vua không khỏi lo ngại tệ trạng các trọng thần ở xa chuyên quyền. Vua Gia Long tính lại đa nghi nên ông đã tìm nhiều biện pháp ngăn chặn mầm loạn[53]. Về phương diện hành chánh, tuy nhà vua đứng đầu và có toàn quyền định đoạt nhưng trên thực tế, tổng trấn Bắc Thành và Gia Định thành có nhiều ưu thế và việc nội trị chỉ trông vào lòng trung thành của các bầy tôi. Vua Thế Tổ chỉ có thể tiết giảm quyền lực của những phiên trấn bằng cách hạn chế binh lực, lấy cớ cho dân nghỉ ngơi trở về sản xuất.
… lệ định các trấn, tự Quảng Bình và đến Bình Thuận thì cứ ba tên đinh kén lấy một tên lính; tự Biên Hòa trở vào thì cứ 5 tên đinh kén lấy một tên lính; từ Hà Tịnh trở ra đến 5 nội trấn ở Bắc thành thì cứ 7 tên đinh kén lấy một tên lính. Còn 6 ngoại trấn là Tuyên Quang, Hưng Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Yên thì cứ 10 tên đinh kén lấy một tên lính …[54]
Các tổ chức thân binh, cấm binh, tinh binh và các vệ thủy quân chủ yếu cũng đóng tại kinh thành. Xem thế ta thấy nhà vua đặt trọng binh ở gần kinh đô ngoài mục tiêu quốc phòng cũng còn có ý đề phòng nội phản. Chính vì luôn luôn nghi kỵ, hai đại công thần là Nguyễn Văn Thành (tổng trấn Bắc Thành), Đặng Trần Thường (binh bộ thượng thư) đã bị sát hại ngay khi vua Gia Long còn tại vị.
Sang đời Minh Mạng, giặc giã ở miền Bắc và miền Nam rất nhiều, nhà vua cũng sợ cái họa phiên trấn nên cũng bắt chước nhà Thanh triệt phiên, bãi bỏ Gia Định thành và Bắc thành. Năm 1833, con nuôi của Lê Văn Duyệt (nguyên tổng trấn Gia Định thành, nay đã từ trần) nổi lên chiếm thành Phiên An (Gia Định) rồi lấy hết sáu tỉnh Nam Kỳ. Triều đình đem quân vào đánh, Lê Văn Khôi bị bệnh chết nhưng quân lính còn tiếp tục chống cự non ba năm mới hạ được thành.
Vua Minh Mạng lại truy cứu những lỗi cũ của Lê Văn Duyệt, Lê Chất khi còn sống, mả bị san phẳng, thân nhân, gia quyến cùng thuộc hạ cũng bị trị tội. Nhà vua cũng sai triệt hạ thành Hà Nội và thành Gia Định, lấy cớ là thành trì địa phương không được quyền to lớn hơn kinh thành Huế. Những cửa khẩu sầm uất đời Lê và đời Tây Sơn cũng bị cấm đoán nên thương nghiệp trong nước cũng suy giảm dần.
Chính vì thế, binh bị đời Nguyễn một mặt thiếu trang bị, ít luyện tập lại tiết giảm vì sợ các nơi nổi lên nên càng lúc càng suy sụp, đến khi bị xâm lấn không sao cầm cự nổi.
Đến đời Tự Đức, nhà vua cả đời ngồi trong cung cấm, không quen việc binh nhung. Ngài tuy tính tình nho nhã nhưng lại là người yếu đuối[55], thích văn chương, trọng hư văn mà kém phần thực dụng. Khi người Pháp đến gây hấn, nhà vua lên ngôi đã lâu, tuổi cũng đã lớn nên không muốn thay đổi khác hẳn những vị vua của Xiêm La hay Nhật Bản cùng thời đó, tuổi còn trẻ, mới lên ngôi nhiều nhiệt huyết. Hơn thế nữa, trong suốt những năm trị vì, ông thấy lúc nào ngoài Bắc cũng có loạn – mà toàn loạn lớn, có lúc tưởng nguy đến nơi — khiến cho không khỏi có bụng nghi kỵ nhân sĩ Bắc Hà. Ngoài ra có lẽ nhà vua cũng không quên vụ “Giặc Chày Vôi” mới xảy ra chưa lâu (1866) khi phu phen đang xây Vạn Niên Cơ (Khiêm Lăng) xông vào điện định thí quân, may nhờ chưởng vệ Hồ Oai liều chết mới cứu được[56]. Trong hoàn cảnh vua tôi không đồng lòng, đình thần không hòa mục, nước nghèo, dân chúng đói khổ, quốc khố trống rỗng, việc mất về tay người Pháp không phải là chuyện lạ.
Cũng vì thế, một con người dũng mãnh, táo tợn như Bùi Viện, có tài trị được cả bọn giặc khách, tính tình lắm lúc có chỗ ngông nghênh, trong tay lại chỉ huy một đội thủy binh hùng hậu đóng ngay cạnh kinh thành, không thể không mang đến những úy kỵ cho triều đình. Dẫu cái chết của ông chỉ là một sự ngẫu nhiên, việc chương trình cải cách của ông không được tiếp nối cũng đáng cho chúng ta đặt thành một câu hỏi.
KẾT LUẬN
Chúng ta không thể phủ nhận việc Bùi Viện chịu một số ảnh hưởng của đương thời, kể cả việc tiếp nhận những tư tưởng mà sĩ phu Trung Hoa hay Nhật Bản đang đề cao. Không thể không đặt ra giả thuyết ông tự đi tìm cơ hội tiếp xúc, tìm đọc và tham khảo những tư tưởng canh tân của Tàu và Nhật, cộng thêm sự quan sát tại chỗ về sự cường thịnh của nước ngoài để đem về áp dụng trong xứ mình. Vấn đề quan trọng là những ứng dụng của ông có hợp thời nghi và khả thi hay không?
Trong bối cảnh lịch sử nước ta ở thế kỷ thứ 19, việc canh tân đất nước đòi hỏi những nhận thức độc đáo và triệt để. Hình thể dài và hẹp của Việt Nam khiến cho sự đi lại khó khăn, hệ thống đường sá chưa mở mang, việc tổ chức và xây dựng lực lượng hải quân phải được coi như ưu tiên số một.
Một lực lượng hải quân có ba tác dụng chính:
1/ Bảo vệ và phát triển hệ thống thương thuyền, chuyên chở và giao dịch từ Nam ra Bắc và ngược lại khiến cho hệ thống kinh tế của Việt Nam được điều hòa.
2/ Xác định chủ quyền lãnh hải và mở rộng tầm kiểm soát của triều đình Việt Nam, tránh được thế bị động chỉ cố thủ chờ người khác đến tấn công.
3/ Làm nền tảng cho việc canh tân đất nước nhất là Việt Nam có nhiều hải cảng thích hợp cho việc tàu buôn qua lại như Saigon, Vũng Tàu, Đà Nẵng, Hải Phòng.
Nếu cải tổ kịp thời, hải quân đã giúp cho Việt Nam làm chủ biển Đông dễ dàng vì thời kỳ đó chưa có những tranh chấp chủ quyền về khu vực này và Việt Nam gần như lực lượng duy nhất hiện diện, không những vì địa thế gần gũi mà còn được mọi quốc gia công nhận. Hơn thế nữa, Việt Nam cũng có thể khai thác vị trí chiến lược của mình để mở rộng giao thương ngỡ hầu canh tân đất nước. Nhiều quốc gia đã muốn giao thiệp với Việt Nam để sử dụng như những căn cứ quân sự và tiếp liệu cho thương thuyền và chiến hạm của họ, không phải chỉ Anh, Pháp mà cả Mỹ, Đức, Nga và nhiều nước Âu Châu khác.
Nhìn lại thực trạng nước ta vào giữa thế kỷ thứ 19, về phương diện quân sự quả không thay đổi bao nhiêu từ nhiều thế kỷ. Vũ khí cũng vẫn dùng cung tên, giáo mác là chính. Tổ chức so với thời Lý, thời Trần không có gì đặc biệt hơn và các cấp chỉ huy đều không được huấn luyện về quân sự cho chu đáo. Những quan võ thì ít học, chỉ là võ biền không có kiến văn. Còn quan văn thì là những nhà nho không biết gì về binh nhung, có chăng là những mẹo vặt đọc được trong tiểu thuyết. Ngay cả nhà vua cũng chỉ muốn cầu an không muốn đánh. Vũ Duy Tuân đã phải dâng sớ mỉa mai: “…yến tước xử đường, mẫu tử tương bộ, hú hú nhiên kỳ tương lạc, tự dĩ vi an …” (nhà cháy đến nơi mà mẹ con chim én, chim sẻ ở góc đầu nhà vẫn mớm cho nhau, ra chiều vui vẻ tự cho là yên ổn lắm). Về sau khi thấy thế giặc quá mạnh, vua Tự Đức cũng phải than:
Võ tướng tiêu sầu duy hữu tửu,
Văn thần thoái Lỗ cánh vô thi.
Tiêu sầu võ tướng thôi đành rượu,
Văn quan đuổi giặc chẳng thành thơ.
Người Pháp đã chiến thắng Việt Nam bằng một lực lượng tấn công nhỏ hơn nhiều vì họ được trang bị đầy đủ và nhất là các cấp sĩ quan, binh sĩ được huấn luyện chu đáo. Nếu quả như Bùi Viện có thể xây dựng được một đội Tuần Dương Quân cho vững mạnh, tình hình nước ta có lẽ đã thay đổi và không gặp phải những bất hạnh về sau này.
Một điều đáng ghi nhận là Bùi Viện đã nhìn ra được cái đại thế của dân tộc Việt Nam và chìa khóa của việc canh tân. Mặc dù lúc đó đã có rất đông sĩ phu hô hào bãi bỏ chính sách bế quan tỏa cảng, thông thương với liệt cường trên một cơ sở bình đẳng nhưng phần lớn người Việt vẫn chưa có được một quan điểm độc lập mà chỉ bắt chước nước khác, điển hình là Trung Hoa để làm gương. Phải nói rằng trong nhiều năm qua – cho đến tận ngày hôm nay – nhà cầm quyền Việt Nam vẫn coi nước Tàu là khuôn vàng thước ngọc, chịu phận đàn em, đi sau một bước.
Vào thời kỳ đó, Trung Hoa đang lâm vào thể sống dở chết dở, ốc chẳng mang nổi mình ốc, huống hồ mang gộc cho rêu. Thế nhưng triều Nguyễn vẫn tiếp tục thần phục, ba năm một lần mang cống phẩm sang Bắc Kinh chịu đóng vai thuộc quốc. Sau hòa ước Giáp Tuất (1874) nước Pháp có tặng cho Việt Nam 5 chiếc tàu có đủ máy móc súng đạn, 100 khẩu đại bác, mỗi khẩu 200 viên đạn, 1000 khẩu súng tay và 5000 viên dạn (khoản 3) và cho người sang huấn luyện quân đội. Có lẽ Bùi Viện đã sử dụng một phần nào những vũ khí và chiến thuyền này để sử dụng vào việc canh cải và vì thế ông đã đề ra một chương trình xây dựng một hệ thống quân đội lấy thủy binh làm lực lượng chính.
Trước đây, khi hai bên Trịnh – Nguyễn còn phân tranh, các phủ chúa đều e ngại bên kia mạnh hơn mình nên tìm mọi cách để gia tăng sức mạnh quân sự. Chính vì thế thời kỳ đó nước ta có những đội chiến thuyền khá tinh nhuệ và hải phận Việt Nam được bảo đảm. Sau khi thống nhất đất nước, nhà Nguyễn một mặt không còn thấy bị đe đọa nên chỉ tập trung vào việc nội an, lại thêm cái học cử tử làm thui chột ý chí sáng tạo và năng động, thành thử càng ngày nước ta càng rơi vào vòng u tối. Bùi Viện đã tìm ra lối thoát và chắc chắn ông không phải chỉ ngừng lại ở việc cải cách Tuần Dương Quân mà có thể có cả những quan điểm cải cách chính trị khi có dịp so sánh thể chế của Hoa Kỳ và các nước Âu Châu với các nước Á Đông.
Nương theo những điều khoản của hòa ước Giáp Tuất, ta phải bằng lòng mở cửa các thương cảng Qui Nhơn, Hải Phòng, ông đã tiến xa hơn một bước mở các chi điếm ở Thanh Hóa, Nghệ An, Đà Nẵng, Quảng Nam. Ngoài ra ông cũng muốn biến Thuận An thành một trung tâm thương mại để làm tăng thêm cái uy nghi của đất kinh đô nên tổ chức một Chiêu Thương Cục, vừa là đại bản doanh cho Tuần Dương Quân, vừa là nơi giao lưu hàng hóa có tính quốc tế mở đầu cho việc thu nhập văn minh trực tiếp vào đất đế đô.
Cho đến nay, việc bành trướng sức mạnh hải quân để gia tăng khả năng phòng thủ và quyền lực trên mặt bể vẫn còn là ưu tiên hàng đầu của đất nước. Chưa kiểm soát được biển đông, Việt Nam còn phải chịu những mũi dao thọc vào ngang hông, có thể bị chia cắt bất cứ lúc nào. Một khi bị tấn công vào mạn sườn thì con rồng Việt Nam chỉ còn là một con thuồng luồng bị săn đuổi không đường chạy.
Tháng 12 năm 2002
Biến cố quan trọng
1839 Bùi Viện chào đời Minh Mạng 20 Nha Phiến chiến tranh lần 1
1862 23 Hoà Ước Nhâm Tuất Tự Đức 15
1864 25 Bùi Viện đỗ Tú Tài
Vua Tự Đức thưởng người học tiếng Pháp Tự Đức 17
1866 27 Vua Tự Đức cho người vào Nam Kỳ học về kỹ thuật, cử Nguyễn Trường Tộ sang Pháp. Tự Đức 19
1868 29 Cử Nhân (ân khoa Nam Định 17/22)
Các giáo sĩ dịch sách Tây Tự Đức 21 Minh Trị (Meiji) lên ngôi Ulysses Grant
(1868-1877)
1869 30 Triều đình tuyển người học kỹ thuật quân sự Tự Đức 22
1871 32 Theo Lê Tuấn đánh giặc Cờ Đen, Cờ Vàng Tự Đức 24
1873 34 Biến cố ngày 12 tháng 4 năm Quí Dậu
Xuất dương lần đầu (tháng 7) qua Hongkong gặp Lãnh sự (?) Mỹ Tự Đức 26
1874 35 Hòa ước Giáp Tuất – Lê Tuấn từ trần (tháng 2)
Tự ý xuất dương lần 2 (?) qua Mỹ gặp Tổng Thống Grant Tự Đức 27
1875 36 Xuất dương lần 3 (?) Tự Đức 28 Vua Quang Tự lên ngôi
1876 37 Thành lập Tuần Dương Quân Tự Đức 29
1877 38 Tự Đức 30
1878 39 Bùi Viện từ trần (1-11) Tự Đức 31
1879 Nguyễn Hiệp điều trần
Nguyễn Thành Ý qua Pháp đấu xảo Tự Đức 32
1881 Phan Liêm mật tâu xin canh tân, Lê Đỉnh xin cải cách Tự Đức 34
1883 Hòa ước Quí Mùi Vua Tự Đức mất
Link download sách “Bùi Viện với chính phủ Mỹ: lịch sử ngoại giao triều Tự-Đức” NXB Chính Ký 1952
Nguyễn Duy Chính

Xem thêm>>

Xem thêm>>

Đóng liên hệ [x]
hotline0988 666 215